Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh Cụ Huỳnh Thúc Kháng:Tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước và nhân cách đại chí sĩ
Nhân kỷ niệm 150 năm Ngày sinh Cụ Huỳnh Thúc Kháng (01/10/1876 – 01/10/2026), chúng ta cùng nhìn lại cuộc đời, sự nghiệp cống hiến xuất sắc của một bậc đại chí sĩ yêu nước, nguyên Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – người trọn đời phấn đấu vì độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc của Nhân dân.
Từ nhà nho đỗ Tiến sĩ đến người thủ lĩnh phong trào Duy Tân
Cụ Huỳnh Thúc Kháng (tên khai sinh là Huỳnh Văn Thước, hiệu Minh Viên) sinh ngày 01/10/1876 tại xã Thạnh Bình, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Nổi tiếng thông minh và học giỏi từ nhỏ, Cụ đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương (năm 1900) và đỗ Tiến sĩ (năm 1904). Tuy nhiên, thay vì ra làm quan hưởng lộc, Cụ đã chọn dấn thân vào con đường canh tân, cứu dân, cứu nước.
Chân dung Cụ Huỳnh Thúc Kháng
Năm 1905–1906, Cụ cùng các chí sĩ Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp khởi xướng và lãnh đạo Phong trào Duy Tân tại Trung Kỳ. Với chủ trương "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh", Cụ đã tích cực vận động mở trường tân học, dạy chữ Quốc ngữ, khuyến khích phát triển thực nghiệp, thương nghiệp, từ bỏ lối học khoa cử lạc hậu để canh tân đất nước.
Vì những hoạt động yêu nước sôi nổi, năm 1908, Cụ bị thực dân Pháp bắt, kết án và đày ra Côn Đảo suốt 13 năm (1908 – 1921). Trong chốn lao tù khắc nghiệt, Cụ vẫn giữ vững khí tiết bất khuất, tự học tiếng Pháp, nghiên cứu sách báo và sáng tác văn thơ nuôi dưỡng ý chí đấu tranh.
Tiếng nói kiên trung trên nghị trường và mặt trận báo chí
Sau khi được tự do, Cụ tiếp tục tìm con đường đấu tranh mới phù hợp với thời cuộc:
Trên nghị trường: Năm 1926, Cụ được bầu làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Cụ đã lợi dụng diễn đàn này để kiên quyết đấu tranh đòi quyền tự do, dân chủ, chống lại chính sách bóc lột của thực dân. Nhận rõ sự can thiệp bất công của nhà cầm quyền, Cụ đã tuốt gươm từ chức vào năm 1928 để thể hiện thái độ kiên quyết.
Trên mặt trận báo chí: Năm 1927, Cụ sáng lập và làm chủ bút Báo Tiếng Dân tại Huế – tờ báo tiếng Việt đầu tiên tại Trung Kỳ. Trong 16 năm hoạt động (1927 – 1943) với 1.766 số báo, Cụ đã biến Tiếng Dân thành diễn đàn bênh vực người nghèo, tố cáo bất công, truyền bá tư tưởng yêu nước. Đặc biệt, Cụ đã đăng loạt bài khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Người cộng sự tin cậy của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trân trọng tài năng và đức độ của Cụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời Cụ tham gia Chính phủ và giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ (3/1946). Cụ cũng được bầu làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt).
Tháng 5/1946, khi Bác Hồ sang Pháp đàm phán, Cụ Huỳnh Thúc Kháng được tin cậy giao giữ chức Quyền Chủ tịch nước. Với phương châm "Dĩ bất biến, ứng vạn biến", Cụ đã chèo lái bộ máy Nhà nước vượt qua nhiều sóng gió, giữ vững an ninh chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng (hàng đầu, thứ nhất từ phải sang) trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ảnh tư liệu
Cuối năm 1946, dù tuổi cao sức yếu, Cụ vẫn hăng hái nhận nhiệm vụ làm Đặc phái viên Chính phủ đi kinh lý miền Trung để động viên đồng bào kháng chiến. Do lâm bệnh nặng, Cụ trần thuật tại tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 21/4/1947, hưởng thọ 70 tuổi.
Ghi nhận công lao to lớn của Cụ, Đảng và Nhà nước đã truy tặng Cụ Huân chương Sao Vàng – phần thưởng cao quý nhất.
Bài học lịch sử và tinh thần học tập tại địa phương
Cuộc đời Cụ Huỳnh Thúc Kháng để lại nhiều bài học vô giá cho thế hệ hôm nay:
1. Lòng yêu nước gắn liền với hành động: Đặt lợi ích của Tổ quốc và Nhân dân lên trên hết.
2. Khí tiết liêm chính, dũng cảm: Cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực.
3. Tinh thần đại đoàn kết: Tôn trọng khác biệt, hướng tới mục tiêu chung xây dựng quê hương phồn vinh.
Thi đua học tập tấm gương Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân phường ta quyết tâm đoàn kết, đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh trật tự, góp phần xây dựng địa phương ngày càng giàu đẹp, văn minh.
Phòng Văn hoá - Xã hội
Chi tiết xem dưới đây!